HỘI THẨM ĐỊNH GIÁ VIỆT NAM

-------o0o-------

Số: 63 /2018/CV/HTĐGVN

V/v: Góp ý Dự thảo Luật Thuế tài sản

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

-------o0o-------

Hà Nội, ngày 3 tháng 5 năm 2018

Kính gửi: Bộ Tài chính

Hội Thẩm định giá Việt Nam nhận được Công văn số 4433/BTC-CST ngày 17/4/2018 của Bộ Tài chính lấy ý kiến tham gia Dự thảo Luật Thuế tài sản; Sau khi nghiên cứu, Hội Thẩm định giá Việt Nam có ý kiến về một số nội dung lớn, cơ bản của Dự thảo như sau:

Việc Bộ Tài chính nghiên cứu xây dựng Dự thảo Luật Thuế tài sản lấy ý kiến rộng rãi của các tầng lớp nhân dân để thay thế cho các sắc thuế trong quá trình sử dụng tài sản hiện hành và thực hiện quy trình ban hành văn bản pháp luật là cần thiết nhằm thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về tiếp tục đổi mới chính sách, pháp luật về đất đai; chủ trương, giải pháp cơ cấu lại ngân sách Nhà nước; chiến lược cải cách hệ thống thuế… trong thời kỳ đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới. Dự thảo đã đưa ra được các nội dung bao quát nguồn thu từ thuế tài sản, khai thác tốt nguồn thu từ thuế tài sản; kế thừa, luật hóa các quy định của pháp luật hiện hành về thuế liên quan đến sử dụng đất còn phù hợp; bảo đảm tính đồng bộ của hệ thống pháp luật và phù hợp với thông lệ quốc tế về thuế tài sản.

Tuy nhiên, để góp phần xây dựng Dự thảo Luật hoàn chỉnh phù hợp với thực tiễn, có tính khả thi, tạo được sự đồng thuận trong xã hội; Hội Thẩm định giá Việt Nam để nghị Ban Soạn thảo nghiên cứu thêm một số nội dung sau:

· Thứ nhất: Về tên của Luật

Hội thẩm định giá Việt Nam đề xuất không nên dùng tên của Luật là “Luật Thuế tài sản” mà có thể cân nhắc, lựa chọn thay bằng tên: “Thuế nhà đất” hoặc “Thuế bất động sản”. Sở dĩ như vậy vì:

1.1 “Tài sản” là một khái niệm có phạm vi bao quát khá rộng xét về mặt lý luận cũng như quy định của pháp luật hiện hành; cụ thể:

Điều 105, Bộ Luật Dân sự số 91/2015/QH13 quy định: “Tài sản là vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản. Tài sản bao gồm: Bất động sản và động sản; bất động sản và động sản có thể là tài sản hiện có và tài sản hình thành trong tương lai”. Vì vậy, nếu sử dụng tên “Thuế tài sản” nhưng lại chủ yếu chỉ có nhà đất dễ dẫn đến những quan ngại và khó đồng thuận của xã hội về phạm vi, đối tượng thu loại thuế này về lâu dài có thể được mở rộng hơn Dự thảo để bao quát hết các loại tài sản.

1.2 Nếu sử dụng tên “Luật thuế bất động sản” hoặc “Thuế nhà đất” sẽ phù hợp với Nghị quyết BCH TW số 19.NQTW, KXI: “Nghiên cứu ban hành Thuế bất động sản (đối tượng chịu thuế phải bao gồm cả nhà đất và tài sản gắn liền với đất)”.

1.3 Thực tế cuộc sống mấy thập kỷ qua, xã hội cũng đã quen với cụm từ “Thuế nhà đất” và đã thực hiện nghĩa vụ “Thuế nhà đất” từ năm 1991 khi Hội đồng Nhà nước ban hành Pháp lệnh Thuế Nhà đất (tuy năm 1992 có sửa đổi, tạm chưa thu thuế đối với nhà, nhưng tên của Pháp lệnh vẫn là Thuế nhà đất). Nay ban hành “Luật mới” cũng chỉ là để thay thế pháp luật hiện hành (Luật thuế sử dụng đất phi nông nghiệp, Luật Thuế sử dụng đất nông nghiệp).

Với đề xuất trên thì đối tượng chịu thuế sẽ không đánh thuế đối với tàu bay, du thuyền, ô tô (sẽ trình bầy lý do không thu ở phần sau) như phương án 2 của Dự thảo về đối tượng chịu thuế.

· Thứ hai: Về đối tượng chịu thuế

2.1 Đối với đất: Nhất trí với Dự thảo về đối tượng chịu thuế và đối tượng không chịu thuế.

2.2 Đối với nhà và công trình xây dựng trên đất: nhất trí với phương án 1: Đối tượng chịu thuế (gồm: nhà ở, nhà và công trình thương mại, dịch vụ) và đối tượng không chịu thuế như Dự thảo (về phân loại công trình xây dựng: đề nghị Ban Soạn thảo sử dụng Nghị định số 15/2013/NĐ-CP ngày 6/2/2013 của Chính phủ chứ không phải Thông tư số 12/2012/TT-BXD ngày 28/12/2012 của Bộ Xây dựng).

2.3 Đối với tàu bay, du thuyền, ô tô: Đề nghị thực hiện theo phương án 2 của Dự thảo (không thu) vì các lý do sau:

Trên Thế giới rất ít nước đánh thuế đối với các loại tài sản này; mặt khác tại Việt Nam như Tờ trình Dự thảo Luật có nêu: “Theo Bộ Giao thông vận tải cung cấp thì 100% số lượng tàu bay, du thuyền đăng ký trên toàn quốc thuộc sở hữu của tổ chức, không có tàu bay, du thuyền nào đăng ký thuộc sở hữu tư nhân”. Đối tượng này (cả về loại tài sản chịu thuế, đối tượng nộp thuế) cũng được Dự thảo cân nhắc miễn thuế, thì thực chất chỉ còn thu được thuế của tài sản là ô tô thuộc sở hữu của các doanh nghiệp và sở hữu tư nhân khi sử dụng cho mục đích kinh doanh, vận chuyển hàng hóa, hành khách. Như vậy số thuế thu được sẽ không đáng kể. Do đó, nếu cứ quy định thu, dư luận xã hội đánh giá nhà nước “tận thu” và gây ra những phản ứng bất lợi.

Đây cũng chính là một trong các lý do mà Hội Thẩm định giá Việt Nam để xuất tên Luật không nên là “Luật Thuế tài sản” vì thực chất chỉ còn đất và nhà.

· Thứ ba: Về căn cứ tính thuế

3.1 Hội Thẩm định giá Việt Nam nhất trí căn cứ tính thuế là giá tính thuế và thuế suất như Dự thảo.

3.2 Về giá tính thuế:

+ Đối với đất: nhất trí với Dự thảo quy định thuế đất được căn cứ vào diện tích đất tính thuế và giá của 1m2 đất tính thuế; giá tính thuế là giá 1m2 đất tại Bảng giá đất do UBND tỉnh, thành phố trực thuộc TW công bố tại thời điểm tính thuế. Bởi nội dung này không mâu thuẫn với Luật Đất đai

+ Đối với nhà: nhất trí với Dự thảo quy định giá tính thuế đối với nhà xây dựng mới và nhà đã qua sử dụng (chất lượng còn lại) theo từng cấp, loại nhà.

Tuy nhiên, về danh mục định giá và thẩm quyền định giá nhà Dự thảo đề nghị giao cho UBND cấp tỉnh quy định theo quy định của pháp luật về xây dựng cần được Ban Soạn thảo cần nhắc để tránh mâu thuẫn với các Luật khác; cụ thể: Theo quy định của Luật Xây dựng, Luật Kinh doanh bất động sản không quy định thẩm quyền quy định giá nhà như Dự thảo; pháp luật về xây dựng chỉ quy định về suất vốn đầu tư xây dựng để các cơ quan, tổ chức, cá nhân THAM KHẢO lập Dự toán chi phí đầu tư xây dựng công trình – tức là không bắt buộc thực hiện. Theo quy định của Luật Giá thì “nhà” không thuộc danh mục nhà nước định giá, trừ “giá cho thuê, thuê mua nhà xã hội, nhà công vụ được xây dựng từ nguồn NSNN; giá bán hoặc giá cho thuê nhà thuộc sở hữu nhà nước”.

+ Nhất trí với Dự thảo: Giá tính thuế đối với nhà, đất được giữ ổn định trong 5 năm, nhưng cần phải làm rõ hơn: trong chu kỳ 5 năm đó giá tính thuế không thay đổi nếu chính UBND cấp tỉnh điều chỉnh bảng giá, công bố giá đất cụ thể; các hình thức chuyển nhượng tài sản dẫn đến thay đổi người nộp thuế; giá trúng đấu giá đối với loại đất, nhà được phép đấu giá…

· Thứ tư: Về thuế suất

4.1 Đối với đất: Dự thảo dự kiến nâng thuế suất hiện nay lên 0,4% tức là tăng khoảng trên 10 lần so với mức quy định của thuế đất phi nông nghiệp hiện hành được dư luận rất quan tâm và có nhiều ý kiến không đồng tình. Do vậy vấn đề này cần được Ban Soạn thảo cân nhắc kỹ hơn về căn cứ xác định mức thuế suất để giải quyết thỏa đáng câu hỏi dư luận đặt ra: tại sao thuế đất lại tăng lên trên 10 lần?

Với nội dung giải trình tại Tờ trình của Ban Soạn thảo, Hội Thẩm định giá Việt Nam cho rằng những lập luận đó chưa đủ sức thuyết phục. Sở dĩ như vậy là vì:

+ Căn cứ duy nhất mà Ban Soạn thảo đưa ra là: kinh nghiệm Thế giới.

Hội Thẩm định giá Việt Nam nhất trí khi xây dựng Luật phải tham khảo kinh nghiệm Thế giới, nhất là trong điều kiện hội nhập. Tuy nhiên, kinh nghiệm cần tiếp thu là: Thế giới họ có đánh thuế tài sản với mức thuế suất nhất định, chứ không phải như cách Ban Soạn thảo đưa kinh nghiệm thế giới: các nước áp mức thuế suất theo dải khoảng 0,2-0,5% tùy quốc gia và đánh giá mức thuế suất hiện hành của Việt Nam thấp, cần được nâng lên; sau đó lựa chọn mức 0,4% mà chưa làm rõ điều kiện của Việt Nam có tương đồng với các nước về điều kiện kinh tế - chính trị - xã hội – hạ tầng – môi trường sống – thu nhập… là chưa thỏa đáng. Hội Thẩm định giá Việt Nam kiến nghị mức thuế suất cao nhất cũng chỉ 0,2%.

+ Xem xét tác động của thuế suất nếu chỉ tính theo thu nhập (giải trình không nói rõ thu nhập quốc dân tính trên đầu người hay thu nhập danh nghĩa thực nhận trên đầu người), tuy rằng cách xem xét đó không sai, nhưng ra kết quả tỷ lệ nộp của nhóm thu nhập cao nhất lại thấp hơn các nhóm không có thu nhập cao, như vậy các nhóm có thu nhập trung bình và thấp bị “đắt” tương đối so với nhóm có thu nhập cao dễ gây so bì, thắc mắc. Do vậy, bên cạnh việc tính tác động điều kiết thu nhập thì yếu tố mang tính quyết định hơn là phải xem xét khả năng chi trả của các chủ tài sản; tức là tổng thu nhập danh nghĩa thực nhận có đảm bảo đủ mức chi tiêu thực tế không (kể cả khi thuế đất tăng lên). Như vậy, phải chăng Ban Soạn thảo cần cân nhắc xử lý thêm cả “bài toán tính ngược” từ khả năng chi trả của chủ tài sản cộng với các yếu tố khác để tìm ra mức thuế suất phù hợp, tránh áp đặt thì sẽ có tính thuyết phục hơn.

+ Ban Soạn thảo đánh giá với cách đánh thuế đất như Dự thảo (bằng toàn bộ diện tích đất thực tế sử dụng x giá 1m2 đất x mức thuế suất); đồng thời có quy định thêm đánh thuế đối với đất sử dụng không đúng mục đích, đất lấn chiếm… sẽ góp phần hạn chế tình trạng đầu cơ về đất, sử dụng đất lãng phí, chiếm dụng đất công…

Hội Thẩm định giá Việt Nam cho rằng với các quy định như vậy là chưa bảo đảm công bằng (giữa người ít đất và người có nhiều đất, giữa người có thu nhập cao và người có thu nhập thấp) và không giải quyết được tình trạng đầu cơ, thâu tóm đất đai (xét về tính điều tiết kinh tế của Thuế); do đó Hội Thẩm định giá Việt Nam kiến nghị: Không thực hiện như Dự thảo, mà thực hiện:

i) Đối với diện tích đất để xây dựng nhà ở cần đánh thuế lũy tiến theo cách:

Phần diện tích đất trong hạn mức theo quy định của UBND cấp tỉnh áp dụng mức thuế suất khởi điểm (ví dụ 0,2%) hệ số 1; phần diện tích đất vượt hạn mức bắt đầu đánh thuế lũy tiến (ví dụ TP Hồ Chí Minh quy định hạn mức đất ở trên địa bàn tại Quyết định số 18/2016/QĐ-UBND ngày 16/5/2016 đối với các Quận 1, 3, 4, 5, 6, 8, 10, 11, Gò Vấp, Bình Thạnh, Phú Nhuận, Tân Bình, Tân Phú không quá 160m2/hộ. Với đề xuất như trên của Hội Thẩm định giá Việt Nam thì phần diện tích vượt hạn mức từ m2 thứ 161 đến m2 thứ 200: hệ số 1, 5; từ m2 thứ 201: hệ số 2… so với mức thuế suất khởi điểm.

ii) Đối với diện tích đất để xây dựng nhà và công trình thương mại, dịch vụ không áp dụng cùng mức thuế suất như đất ở mà áp dụng mức thuế suất cao hơn đất ở và cũng tính toán có thuế suất lũy tiến hợp lý.

iii) Đối với đất sử dụng không đúng mục đích sử dụng theo quy định của pháp luật phải có chế tài buộc sử dụng đúng mục đích (ví dụ đất ở nhưng lại xây nhà hàng, khách sạn, văn phòng cho thuê…); đất chịu thuế không đưa vào sử dụng, đất lấn chiếm thì thu hồi chứ không quy định đánh thuế như Dự thảo để rồi thực tế lại tồn tại nghịch lý “đánh thuế cho tồn tại”.

4.2 Đối với nhà:

Dự thảo quy định ngưỡng không chịu thuế và ngưỡng chịu thuế theo giá trị (phần giá nhà tính thuế từ 700 triệu đồng trở xuống: 0%, phần giá tính thuế trên 700 triệu đồng: 0,4%) tính toán dựa theo Quyết định số 1161/QĐ-BXD ngày 15/10/2015 của Bộ Xây dựng (đề nghị Ban Soạn thảo cập nhật thông tin vì Bộ Xây dựng đã có Quyết định số 706/QĐ-BXD ngày 30/6/2017). Đây cũng là một cách lựa chọn và nó cũng có những ưu điểm nhất định do phân biệt được giá trị các loại nhà khác nhau theo đơn giá m2 xây dựng khác nhau (cấp 1, 2, 3, 4)... Tuy nhiên cách lựa chọn này không hợp lý, không đủ sức thuyết phục, bởi lẽ:

- Nhà thì có nhà ở, nhà và công trình thương mại dịch vụ, hai loại này theo công bố của Bộ Xây dựng có suất đầu tư khác nhau (suất đầu tư cho nhà và công trình thương mại có suất đầu tư cao hơn nhà ở; đơn vị tính suất đầu tư cũng khác nhau, ví dụ: nhà ở thì tính theo m2, còn khách sạn có tiêu chuẩn từ 1- 5 sao lại tính bình quân cho 01 giường ngủ…). Do vậy nếu nhà ở, nhà và công trình thương mại dịch vụ cùng áp dụng các ngưỡng như Dự thảo là không phù hợp với thực tế.

- Dự thảo lấy suất đầu tư xây dựng nhà do Bộ Xây dựng công bố làm ngưỡng không chịu thuế và ngưỡng chịu thuế là chưa hợp lý vì: suất vốn đầu tư đó được Bộ Xây dựng thông báo chỉ để tham khảo lập Dự toán chi phí quản lý xây dựng công trình khi cơ quan, tổ chức, cá nhân xây dựng công trình. Đó hoàn toàn không phải giá tính thuế bắt buộc thực hiện để xây dựng ngưỡng chịu thuế và ngưỡng không chịu thuế.

- Không giải đáp được câu hỏi các ngưỡng giá trị nói trên chủ yếu điều tiết vào đối tượng nào? ảnh hưởng của thuế đối với đối tượng có thu nhập trung bình và thấp ra sao? Bởi Ban Soạn thảo không có số liệu chứng minh được cơ cấu, tỷ trọng giá trị của từng loại nhà, cấp nhà và theo không gian: thành thị hay nông thôn.

- Đánh thuế nhà theo các ngưỡng giá trị đó sẽ phát sinh những tác động tiêu cực nhất định trong xã hội do hạn chế việc người dân dành dụm thành quả lao động của mình nhiều năm thậm chí cả đời để đầu tư xây dựng những căn nhà hiện đại, tiện nghi và tương lai là những căn nhà, những công trình thông minh.

Để khắc phục những bất cập trên, bảo đảm tính công bằng đối với mọi giai tầng trong xã hội và góp phần giải quyết tình trạng đầu cơ nhà đất, Hội Thẩm định giá Việt Nam kiến nghị không áp thuế nhà theo ngưỡng giá trị mà áp theo ngưỡng diện tích và có thuế lũy tiến, điều này cũng phù hợp với thông lệ quốc tế. Đồng thời phải có sự phân biệt giữa nhà ở, nhà và công trình thương mại dịch vụ; cụ thể:

+ Đối với nhà ở: Ngưỡng không chịu thuế và ngưỡng chịu thuế là tính theo diện tích nhà ở bình quân 25m2 đầu người tại Đề án chiến lược phát triển nhà ở quốc gia đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030, nếu Đề án có phân chia thành thị riêng, nông thôn riêng thì phải tính riêng (Cách làm giống như quy định về hạn mức đất ở). Phần vượt ngưỡng bắt đầu đánh thuế lũy tiến (Phần đánh thuế vượt ngưỡng này sẽ giải quyết được mục tiêu điều tiết đối với những người có nhiều nhà ở, người giàu…)

+ Đối với nhà và công trình thương mại dịch vụ: Không áp dụng ngưỡng không chịu thuế như đối với nhà ở mà áp thuế ngay từ m2 đầu tiên của nhà và công trình (vì ngay từ m2 đầu tiên các công trình này hoạt động đã đem lại lợi ích và có tính sinh lợi phục vụ mục đích kinh doanh khác hoàn toàn nhà ở) với mức thuế suất cao hơn thuế suất khởi điểm phần vượt ngưỡng diện tích tính thuế nhà ở cho toàn bộ diện tích nhà theo quy hoạch được duyệt.

4.3 Để bảo đảm tính minh bạch, tiên lượng được thì Dự thảo cũng cần thiết phải quy định tính ổn định của thuế suất (tương tự cách quy định của giá tính thuế).

Trên đây là góp ý của Hội Thẩm định giá Việt Nam, kính đề nghị Bộ Tài chính xem xét xử lý.

Nơi nhận:

- Nt

- Các đơn vị thuộc Bộ Tài chính: Vụ chính sách thuế, Cục Quản lý giá, Cục Công sản.

- Đăng Website

- Lưu VP

CHỦ TỊCH

   (đã ký)

Ts. Nguyễn Ngọc Tuấn

Nguyên Thứ trưởng Bộ Tài chính

Gop y du thao luat Thue tai san.doc

Tin liên quan

Đăng nhập

Tên đăng nhập:
Mật khẩu:

Hỗ trợ trực tuyến

Hỗ trợ trực tuyến

skype: taina1123

Thống kê truy cập

Đang online:

Hôm nay:

Hôm qua:

Tháng này:

Tháng trước:

Tổng số truy cập: